Trang Chủ  |  Đại Chúng  |  Toàn Khoa  |  Chuyên Khoa  |  Học Hỏi

 


 

 
Truyền thông
   Tham khảo bệnh
   Báo chí thế giới
   Truyền thanh thế giới
   Truyền hình thế giới
   Diễn đàn - Forum
   Nhà xuất bản
   Trang nhà Việt Nam
 
Ứng dụng
   Máy tính
   Giờ quốc tế
   Ngoại tệ
   Tự điển
   Bản đồ
   Phiên dịch Online
   Thời tiết
   Lá số tử vi
   Điện thư - Email
   Điện thiệp - Ecard
   Danh bạ thế giới
   Danh bạ công ty

BIỂN NHỚ

Hồi ký của Bác-sĩ Phan Minh Hiển

Lá Bối, Paris và San Jose, in lần thứ nhất, 1984


Chương 2: Vớt thuyền đầu tiên

Sáng 22 tháng 6, tuy phiên gác đã chia xong, nhưng mọi người lên phòng lái quan sát biển, cãi vả nhau lấy ống nhòm như nít nhỏ giành đồ chơi, khiến thuyền trưởng lắm lúc bực đủ-i xuống hết.

Mãi đến trưa vẫn chưa thấy gì : mỗi khi đổi phiên lại trách nhau :

- Tao sẽ kiếm ra cho bay coi !

13 giờ, chúng tôi đang dùng cà phê, đột nhiên nghe la :

- Ghe, ghe tỵ nạn…

- Mọi người chạy ào lên hỏi :

- Đâu, đâu… đưa coi !

Tôi cầm ống nhòm lên xem và bỗng nghe khó thở, cổ hầu nghẹn đau, hai tay bủn rủn. Xa xa lấp ló một chấm đen bằng đầu bút chì. Trời ơi ! Ghe tỵ nạn đó sao ? Chỉ đến bây giờ, tôi mới ý thức được sự liều lĩnh của những người đi tìm tự do và mới thấu hiểu giá trị của hai chữ Tự Do. Chỉ cần một lượn sóng to hơn là chấm đen kia sẽ biến mất trong đại dương. Lòng tôi lại càng phập phồng mỗi khi có sóng to làm mất dạng chiếc ghe lâu hơn. Tôi lo sợ đại họa đã xảy ra cho những thuyền nhân bạc số kia. Tàu đổi hướng. Tôi cầu cho gió lặng.

Hai mươi phút nữa mới đến nơi, còn kịp chăng ? Không đầy năm phút sau lại nghe hét lên :

- Ba chiếc lận, tới ba chiếc !

Tim tôi lại càng đập mạnh như muốn lọ khỏi lồng ngực. Xúc động mạnh quá, tôi không cầm được nước mắt. Kouchner vỗ vai tôi nói :

- Chuẩn bị đồ đạc đi, sắp tới rồi.

Tàu tăng tốc độ vì mọi người quá nóng lòng. Ba chấm đen kia hiện rõ hơn. Chấm gần nhất có hình dáng chiếc thuyền mong manh. Patrick thắc mắc :

- Dạng này không phải ghe tỵ nạn !

Mọi người ngạc nhiên, lại giành nhau xem. Thất vọng, tôi hỏi :

- Sao anh biết ?

- Nhà “chòi“ ghe Việt Nam thường ở phía sau. Ở đây cái mui ngay giữa, vậy theo tôi là ghe Thái, hai chấm kia chưa phân biệt được.

- Cướp Thái bây ơi ! – một ký giả hô lên.

Người khác thêm vào :

- Biết đâu bọn nó vừa hành hung một ghe và hiện đang hãm hiếp đàn bà tỵ nạn. Mọi người đều hồi hộp và khó chịu. Vài thủy thủ định kiếm cây búa phòng hờ... Bỗng ghe nọ đề nổ máy chạy hướng khác làm chúng tôi tức chửi :

- Đúng là cướp, rượt theo đụng chìm mẹ bọn nó !

Nhưng Kouchner không đồng ý, vì sóng gió vẫn còn lớn mà hai ghe kia chưa rõ dạng. Rủi là thuyền tỵ nạn thật thì sao . Tôi xót xa vô cùng cho thân phận các thiếu nữ trên ghe Thái kia nếu lý luận bạn tôi là sự thật ? Tương lai họ sau khi đã tô điểm lại phần nào với hy vọng tự do, no ấm lúc ra khơi, giờ đây lại chợt tắt trong tay bọn thú hình người. Vài phút sau lại thất vọng nữa, hai ghe kia cũng nổ máy chạy. Kouchner giải thích :

- Tàu Cap Anamur gặp ghe Thái là đụng chìm, không cần biết phải là cướp hay không. Có lẽ những thuyền lúc nãy tưởng Goelo cũng làm như thế. Nhất là lúc tàu chúng ta tăng tốc độ, chúng càng lầm, sợ hơn.

Đến phiên tôi gác, để cho khuây khỏa tinh thần sau nửa giờ bị căng thẳng, tôi dặt ống nhòm tập phân biệt tàu Nga, tàu Trung Cộng... Vùng này tương đối nhiều tàu chở dầu qua lại vì có những dàn khoan ngang bờ biển Mã Lai Á. Đang quan sát một tàu lớn, tôi bỗng thấy một chấm đen tách ra. Tôi gọi các bạn lên xem, nhưng sự hăng hái lúc nãy không còn nữa, đứa lên trước, đứa tới sau, chẳng ai thèm giành giựt, ống nhòm dường như quá nặng cho các bạn.

Dần dần hiện ra hình dáng chiếc ghe... với mui tàu phía sau ! Mọi người thầm mừng, hy vọng là “ghe tỵ nạn đã từng xin các tàu khác vớt nhưng đa bị từ chối“. Một lát sau hiện rõ trên mui chiếc ghe lá cờ trắng, mũi ghe hướng về tàu Goelo. “Đúng là thuyền tỵ nạn rồi !“. Ai nấy hét la ầm ĩ, bắt tay nhau. Tôi thầm nghĩ : “Bên ghe kia chắc đồng bào cũng đang ôm nhau mừng khi Goelo đổi hướng quay về phía họ. Nhưng giữa họ và chúng tôi, ai mừng hơn ?“. Tôi chạy vào phòng y tế chuẩn bị đồ vô nước biển. Các phóng viên ra boong tàu đặt máy quay phim. Còn thủy thủ đoàn, kể cả những người đang ngủ trưa cũng đã sẵng sàng dây cột ghe, hạ thang sắt xuống... Một bầu không khí vui tươi như ở viện bảo sanh, bác sĩ và y tá ríu rít chuẩn bị đón đứa bé sắp chào đời !

Tàu Goelo tắt máy, ghe chỉ còn cách năm trăm thước, tôi thấy vài người leo lên mui vẫy cờ trắng đề chữ SOS, ngoắt chào và đặt ống nhòm quan sát chúng tôi. Tôi vẫy tay chào lại, và ra dấu cho ghe đến gần hơn. Gió vẫn mạnh, sóng vẫn lớn. Thiên nhiên như muốn thử thách lòng người lần cuối, hay Tạo Hóa còn ham đùa cợt trên nỗi đau thương vất vả của loài người ?

Thang sắt đôi khi văng lên ngang mặt, làm chúng tôi lo cho sự an toàn của người tỵ nạn khi đổi ghe lên tàu : có người sẽ rớt xuống biển ? Thang sắt sẽ đập nát ghe hay bể đầu ai ? Làm cách nào khác ? Phải nói gì để trấn an đồng bào ? bao nhiêu câu hỏi không lời đáp vì thiếu kinh nghiệm. Ghe đã tới gần hơn, còn hai trăm thước.

Tôi cố hét lớn nói chuyện, nhưng tiếng nói bị lấp, chữ mất chữ còn. Bỗng nghiên ghe tắt máy và trôi dần làm chúng tôi hốt hoảng vì thêm một sự khió khăn để cặp lại gần.

Bên ghe tỵ nạn hỏi :

- Pulau Bidong còn xa không ?

Tôi đáp lại :

- Đây là tàu Pháp, sẵn sàng vớt.

Tôi lại nghe bên kia nói với nhau : “Tiếng Việt rõ ràng mà…”. Tôi lặp lại gần như hét : “Tàu Pháp” nhiều lần, nhưng ghe đã trôi xa.

Bủn rủn chân tay, tôi ứa lệ trước sự bất lực của mình.

Tàu Goelo chạy lại, cố đến gần ghe hơn. Thuyền bên kia vẫn còn quan sát chúng tôi. Đột nhiên họ đề máy ghe và chạy về phía tàu. Sóng gió đã tương đối dịu bớt. Tàu và ghe chỉ còn cách xa nhau năm mươi thước, nói chuyện dễ nghe hơn. Bên ghe nói :

- Anh xin giùm chút đỉnh xăng nhớt và lương thực là quý lắm. Tụi tôi sẽ tự túc đến đảo !

Tôi ngạc nhiên trả lời :

- Đây là tàu Pháp, mấy anh sợ gì ? Họ đáp lại : “Chúng tôi biết…” rồi do dự không muốn nói tiếp.

Khi tôi dịch cuộc đối thoại cho các bạn Pháp, họ thất vọng và không hiểu sao người tỵ nạn lại có thái độ lạ lùng vậy. Chúng tôi tuyên bố :

- Thôi được, chúng tôi lặp lại, ai muốn lên tàu lớn chữa bệnh thì lên, sau đó sẽ cho xăng nhớt đi tiếp.

Các thuyền nhân bỗng ngạc nhiên bảo nhau :

- Có bác sĩ đi vớt tụi mình !

Mọi người chợt hò hét vui mừng.

Tàu quăng dây cột ghe lại. Xuống thang sắt rất trơn, sóng lắc mạnh, Kouchner nhào té, tôi chụp ông kịp ở hông…

Đưa được hai người lên trong những điều kiện quá nguy hiểm : trợt té, chân tay bầm… chúng tôi trở về tàu, rút thang lên và cho giăng lưới xuống, căn dặn chỉ leo từng người : ưu tiên là đàn bà, trẻ con. Hai thủy thủ xuống ghe phụ đỡ thuyền nhân ; chúng tôi trên này chụp tay họ kéo lên. Trong lúc đó Kouchner khám bệnh sơ sơ dưới ghe và cho tôi biết cần những gì.

May phước thuyền ra khơi từ Cà Mau mới có ba ngày, lương thực chưa thiếu, chỉ có vài người say sóng mệt xỉu. Ghe tuy bị cướp Thái rượt bắn, nhưng không ai bị thương. Họ đã thoát được nhờ mang theo một cây M16 bắn lại ; ngoài ra các người trên ghe còn mang theo nhiều súng giả bằng cây sơn đen để dọa bọn cướp biển từ xa.

Bốn mươi hai người được vớt trên chiếc ghe mười thước bề dài, ba thước bề ngang. Sau khi đem lên đầy đủ hành trang, một thủy thủ ở lại đục cho ghe chìm. Suýt chút nữa chúng tôi quên anh ta vì chúng tôi đã tháo dây định cho ghe trôi… Mọi người hể hả quên đi những phút gian nan vừa trải qua !

Đồng bào được dìu xuống hầm trước nghỉ mệt. Vài thanh niên phụ nhau trải ghế bố ra nằm. Đám trẻ con nhảy nhót vui cười sau bao ngày tù túng. Các ký giả cũng phụ phát nước uống và lau mặt cho những người còn mệt. Vài thủy thủ chỉ dẫn cho “Ban Tổ Chức” ghe cách sử dụng bếp, nấu cháo ăn liền cho đỡ đói.

Nửa tiếng sau, chúng tôi trở xuống bàn chuyện. Dĩ nhiên, thắc mắc đầu tiên là sao ghe không xin được vớt ?

Anh chủ ghe đáp lại :

- Chúng tôi rất ngạc nhiên khi nghe tiếng Việt từ trên tàu, bởi vậy tắt máy nghe kỹ lại. Sau đó tưởng anh là thủy thủ Việt Nam làm việc trên tàu cộng sản !

Tôi hỏi tiếp :

- Sao anh không nghĩ là tàu xứ tự do ?

- Tại cái cờ Pháp có khúc màu đỏ nên nghĩ là tàu cộng sản !

Một ký giả đắc ý nói :

- Hỏi họ bên nhà cộng sản Việt Nam làm gì mà bây giờ gặp màu đỏ lại phát sợ đến thế ?

Tôi quay lại hỏi nốt :

- Tôi hét mấy lần “đây là tàu Pháp”, không nghe sao ?

- Dạ nghe không rõ, vả lại sợ bị lừa. Khi tàu mấy anh quay đầu lại mới thấy tên là Le Goelo. Tuy không hiểu chữ Goelo nhưng cô giáo kia biết chữ “Le” là tiếng Pháp nên yên lòng, lại xin xăng và lương thực.

- Sao không chịu lên khi đã biết ?

- Pháp bây giờ theo xã hội chủ nghĩa rồi, thoát bọn quỷ đỏ, gặp quỷ hường, coi như cũng vậy. Khi biết mấy anh là bác sĩ đi cứu giúp đồng bào vượt biển chúng tôi mới yên tâm phần nào!

- Không sao đâu, đến trại rồi ai muốn xin định cư xứ nào tùy ý thích, không ai bắt buộc mấy anh qua Pháp đâu !

Sau đó các phóng viên truyền hình (Antenne 2) mời các lính và sĩ quan đã bị học tập lên phỏng vấn. Đời sống trong trại tù, chươpng trình cải tạo tư tưởng và cuộc sống sau khi ra trại được đề cập đến. Với những nét mặt cứng rắn, những cái nhìn cương quyết, những giọng nói uất ức, các anh đã tố cáo trước dư luận quốc tế sự lừa bịp của danh từ “trại học tập” khi quyền tự do bị cưỡng đoạt và nhân phẩm hạ thấp hơn súc vật. Một anh tuyên bố :

- Tôi ra đi để cho tương lai gai đình được sáng sủa hơn, nhưng riêng cá nhân tôi, sau khi đã phục hồi sức khỏe sau bốn năm cải tạo, tôi sẽ trở về chiến đấu bọn cộng sản để rửa hận này !

Chúng tôi bàn luận với các bạn tỵ nạn đến chiều. Đôi khi vì quá nóng lòng, tôi đã không kèm được sự nóng nảy trước các thiếu nhi từ mười hai đến mười bốn tuổi, đi không có cha mẹ.

- Em đi trốn cộng sản, không có thân nhân dẫn, vậy em có thân nhân ở nước ngoài không ?

- Dạ, em cũng không biết xin đi nước nào, mong rằng có ai nhận nuôi em và đứa cháu ba tuổi. Ba mẹ tụi em còn ở lại !

- Em rời bỏ quê hương, gia đình để làm gì ?

- Tự do…

- Tự do là gì đối với em ? Cho anh vài ví dụ.

Em do dự rồi thốt nhẹ :

- Dạ… em không biết !

Tôi nạt lớn :

- Vậy mà cũng đi. Gặp cướp Thái nó hãm hiếp rồi nó trấn nước thằng cháu thì sao ?

Phần đông mong được qua Mỹ hay đi Úc để đoàn tụ với gia đình bên các nước đó. Nhưng cũng có vài trường hợp hơi đặc biệt. Ví dụ một cô đưa tôi xem vài tấm hình màu mang theo và nói :

- Mấy đứa bà con của em đó bác sĩ. Tụi nó qua trước có ba năm…

Tôi nhìn vào hình thấy vài cô cậu ăn mặc chải chuốt đừng chung quanh một chiếc xe sang trọng, đậu trước một căn nhà trắng có bãi cỏ xanh… Giọng nói cô gái nọ chứa chất thật nhiều ước mơ thầm kín, nhất là khi cô vô tình nhấn mạnh ba chữ “có ba năm” (ngụ ý mới ba năm mà đã được như vậy…).

Tối đến, tôi khám lại bệnh nhân, chúc mọi người ngủ ngon, hẹn ngày mai sẽ cho họ biết thêm về hoạt động trên tàu… Vừa định lên cầu thang, một em nhỏ khều tôi lại :

- Mai bác sĩ dẫn em đi coi chiếc trực thăng !

Tôi ngạc nhiên :

- Đâu có trực thăng trên tàu ?

- Uïa, chứ chiếc Cap Anamur đi vớt người thường dùng trực thăng để đi thám sát mà. Em có đứa bạn gởi cho tấm hình chụp tàu có trực thăng đáp xuống.

- Hội của anh chưa có tiền mua trực thăng. Hiện nay tàu chỉ đủ tiền đi vớt hai tháng thôi em ơi !

Đến khuya, chúng tôi vui vẻ bàn kế hoạch tổ chức cuộc sống trên tàu. Số thuyền nhân còn ít nên khỏi quan tâm đến sự hạn chế thức ăn, nước uống. Chỉ có một vấn đề quan trọng chưa được giải quyết : hội Médecins du Monde nhờ chánh phủ Pháp can thiệp cho những người tỵ nạn do tàu Pháp vớt được vào trại Singapore. Hiện giờ chỉ có Phi Luật Tân chấp thuận cho họ tạm cư, nhưng xứ này xa quá, phải mất ba ngày đi và ba ngày về lại vùng vớt. Một khó khăn khác là việc sửa chữa máy tàu và đổ xăng chỉ thực hiện ở Singapore. Thái Lan và Mã Lai hoàn toàn từ chối cho tàu đến gần dù là để đổ xăng. Như mọi người đều biết, bác sĩ Kouchner đã từng lên truyền hình và truyền thanh tố cáo thái độ vô lương tâm và dung túng cướp biển của hai quốc gia này… Nam Dương tuy chấp nhận cho ghe tỵ nạn tấp đảo nhưng từ chối việc những người tỵ nạn đưộc tàu “chuyên vớt” đem người vào. Đó là vì áp lực của Cao Uûy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Cao Ủy Tỵ Nạn viện lý do là những tàu như Cap Anamur, Goelo sẽ thu hút dân Việt Nam vượt biển nhiều hơn.

Vài ngày trôi qua. Bề ngoài, cuộc sống trên tàu vẫn bình thường nhưng tôi đã thấy được những nét bực bội của các thuyền nhân. Tuy vài người có đến cám ơn chúng tôi nhưng đa số tỏ vẻ bất bình vì họ nói :

- Giờ này, đáng lẽ đã tấp vào đảo Pulau Bidong được rồi.

Tôi nghĩ bụng : “Có chắc gì họ đến được an toàn không ?” nhưng không nói ra. Thái độ của một số người như muốn nói là họ bị gạt gẫm khi lên tàu. Vài người còn mỉa mai hải chúng tôi :

- Vớt được mà người tỵ nạn thì lãnh bao nhiêu tiền thưởng ? Nếu không lãnh thưởng, sao chưa chịu về bờ mà cứ lênh đênh mãi ngoài khơi ?

Tôi không biết trả lời gì hơn là : “Chưa đến lúc !”. Họ lại nói :

- Mùa này bão tố nhiều, không còn ai ra biển nữa đâu mà tìm. Ghe tụi tôi máy tốt mới dám ra khơi.

Tôi rất buồn và nghĩ : "Sao ở đời lại có những người ích kỷ đến mức đó ? ». Tôi nhắc nhở các bạn trong hội đoàn Médecins du Monde : « Sau này mình cần nói rõ, trước khi cho thuyền tỵ nạn lên, là tàu mình phải ở lại ngoài khơi đến cuối tháng mới vào bờ, để họ quyết định sáng suốt hơn và sau không trách được ».

Mọi người tán thành trên lý thuyết cho qua chuyện, nhưng tôi cũng thấy được trong lòng họ nghĩ khác. Ai cũng ưa vớt được nhiều ghe, cứu nhiều thuyền nhân để về Pháp có dịp chứng minh và dễ dàng lạc quyên hơn và cũng để chứng tỏ mình có công cứu vớt người khổ nhiều hơn. Tôi nghĩ : nếu mọi người chịu khó quên cá nhân mình một chút, người tỵ nạn bớt ích kỷ, chịu nghĩ đến những cái khó khăn của hội đoàn tổ chức cứu trợ và anh em trong hội bớt lo lắng về cái uy tín cá nhân hơn thì công cuộc cứu trợ có thể lâu bền và ý nghĩa hơn.

Mục lục

 Lời giới thiệu
 Chương 1 Sửa soạn ra khơi
 Chương 2 Vớt thuyền đầu tiên
 Chương 3 Cộng tác với tàu Le Balny
Chương 4 Vớt xong về bờ
Chương 5 Về trại Palawan lần cuối

 

 
  Trang trước  |  Trang kế  

 

Tìm kiếm trong    Vietnam Y Tế     Web

 

 

 

Gõ tiếng Việt :  Tắt Telex VNI

 

Cập nhật ngày 02 tháng 01 năm 2008 - Copyright © 2001 - 2008 Vietnam Y Tế