|
|
|
|
|
|
Trang Chủ | Đại Chúng | Toàn Khoa | Chuyên Khoa | Học Hỏi |
|
|
|
|
BIỂN NHỚ Hồi ký của Bác-sĩ Phan Minh Hiển Lá Bối, Paris và San Jose, in lần thứ nhất, 1984
Ngày 26 tháng 6, tàu Balny hẹn với tàu Goelo vào lúc bốn giờ chiều. Tàu Balny sẽ chuyển qua cho chúng tôi 200 người họ mới vớt. Họ chỉ giữ lại 70 thuyền nhân của ghe chót chưa được phục hồi sức khỏe. Đúng giờ, mọi người đứng trên mui hầm, xôn xao bàn tán, đổ nhau xem Balny tới từ phía nào. Không đầy một phút sau, tàu xuất hiện từ xa và rõ dạng rất mau. Hai thuyền trưởng chào nhau với những hồi còi hụ inh ỏi, làm tan sự yên lặng của đại dương. Lòng tôi cảm thấy tê tái và khâm phục sự chính xác của giờ giao định… chẳng thua gì đúng hẹn với… bồ để đi xi nê. Hai tàu thả neo cách xa nhau 500 thước. Hàng trăm bàn tay vẫy chào chúng tôi. Biển động, trời sắp bão nên rất âm u. Việc chuyển dân tỵ nạn bị đình lại sáng hôm sau. Chợt một hiện tượng lạ mắt quỷ quái khiến chúng tôi kinh hoàng : hàng chục con rắn biển giãy giụa trên mặt sóng… đôi khi quấn quýt nhau thành nùi… như đến tìm « thịt tươi » ? Xa xa hơn, một anh tỵ nạn chỉ tôi một con cá mập trắng khoảng ba thước bề dài đang lặn « đợi cơm chiều ». Tối đến, phó đề đốc hải quân mời Kouchner và phóng viên truyền hình qua Balny dùng bữa chiều. Tôi không đi được vì bận với bệnh nhân. Đêm nay khỏi gác, tôi lên phòng lái trò chuyện với thủy thủ đoàn. Tàu lắc lư nhiều hơn (60 độ) nhưng bầu không khí lại càng nhộn nhịp… một tay cầm thức ăn, một tay chụp chén dĩa lưu ý đang ngã nghiêng theo tàu ; bàn ghế, áo quần cũng nghiêng lệch đổ thào. Hai tàu thắp đèn rất sáng để giúp cho ghe tỵ nạn định hướng tìm tới, tạo cảm tưởng như một hội chợ với tiếng cười nói và trẻ con la réo nhau… Tôi có cảm tưởng như sống trong mơ với những ánh đền vàng lấp lánh trên mặt sóng nhấp nhô. Triệu triệu bọt biển tan vỡ trên sườn tàu màu xanh xanh tạo ra những hình ảnh đẹp tuyệt vời. Sáng hôm sau, từng nhóm hai mươi lăm đến ba chục người tỵ nạn được đưa từ tàu Balny qua Goelo. Cách tổ chức nhà binh thật chu đáo và an toàn, khác hẳn với phương pháp tài tử của chúng tôi : mọi người đều có đeo phao, có khoen móc dây vào, trèo lên, leo xuống không ai sợ té. Sáng đó tôi mệt dễ sợ vì phải nhắc nhở và rầy hoài những người đứng quanh quẩn, không chịu xuốngười hẩm tàu, làm cản trở việc chuyển tàu. Đến trưa, tôi sang viếng Balny, nhận ra một bác sĩ bạn học cũ, đã không gặp nhau mấy năm nay. Hai người kéo nhau vào phòng, nhắc lại kỷ niệm thời sinh viên. Lên phòng lái xem Radar hải quân thật tinh vi. Một khúc cây lớn cách vài cây số họ cũng phát giác được, và đèn báo hiệu sẽ tự động chớp. Chẳng bì tàu chúng tôi phải tìm ghe bằng ống nhòm. Radar tàu Goelo rất yếu, chỉ dùng để tránh tàu lớn trong sương mù mà thôi. Phòng y tế Balny tối tân như bệnh viện, có cả điện tuyến X. Bạn tôi đề nghị rọi tay mặt tôi xem có bị gãy không vì trước đó tôi có bị ghe dập và bị vướng vào dây nghiền nát da. Tôi từ chối vì đó là giờ nghỉ trưa của y tá. Chúng tôi ra sau thăm những người tỵ nạn còn ở lại Balny vì bệnh. Tuy họ sống chật chội hơn bên Goelo nhưng đồ đạc thì không thiếu chi : mền gối, quần áo mới, ăn uống rất đầy đủ, có cả tã cho trẻ con và băng vệ sinh cho phụ nữ. Tôi tỏ nỗi lo âu : « Bên anh lo chu đáo quá, tụi này làm sao mà bì, chắc lại sẽ bị khiển trách nữa ! ». Chiều lại, đã đến phút chia ly, còi tàu hai bên vang dội. Tôi xuống hầm tàu làm quen với các « tổ trưởng » mới ! Mỗi người đại diện từ ba mươi đến bốn mươi thuyền nhân ghe họ. Tất cả có tám « xếp » đến bàn thảo. Lắm lúc tôi hơi bực với những câu trả lời ngang xược nhưng tôi thông cảm họ đã lênh đênh trên biển đã hơn mười lăm ngày. Ai cũng mong mỏi về bờ báo tin cho gia đình biết là họ chưa chết hay bị bắt. Vả lại mấy người mới từ Balny chuyển qua đang thất vọng vì họ tưởng chúng tôi rước họ để đem về bến ngay. Tổng đài các giếng dầu khoan cho chúng tôi biết co khoảng 600 người tỵ nạn đã ghé họ để xin xăng nhớt trong mấy ngày qua ; ngoài ra bão lớn sắp đến nên chúng tôi không thể về bây giờ mà phải cố tìm để cứu các ghe lâm nguy. Trong khi chờ về bến, các « tổ trưởng » được yêu cầu chăm sóc vệ sinh « xóm » họ, đừng tắm bằng nước ngọt dùng để uống, chia gạo đồng đều cho nhau. Mỗi ngày sẽ họp lại vào lúc 4 giờ chiều để chia sẻ những khó khăn của cuộc sống trên tàu, và giải đáp các thắc mắc. Tối đến, dưới hầm nóng ngợp. Đồng bào tỵ nạn rủ nhau lên boong hứng gió. Đây là một em bé mười tuổi bơ vơ nằm nhìn trăng sao, nhớ cha mẹ còn kẹt lại va đang khóc thút thít ; đằng kia là một phụ nữ một mình ngồi đút cháo cho con thơ. Xa hơn nữa một nhóm thanh niên chia nhau vài điếu thuốc mới xin được ; trên bực thang vài thiếu nữ ngồi ngâm thơ… Aùnh trăng sáng ngời tỏa chiếu vào bức tranh kia một vẻ đẹp mầu nhiệm. Mỗi cử chỉ của họ đều làm tôi rung cảm lạ lùng. Hồn tôi như tan ra, hòa hợp với bầu không khí thiêng liêng đêm nay. Tôi muốn đến lau nước mắt cho đứa bé kia ; tôi muốn lại bồng đứ bé đang ăn và hỏi cha em đâu ? Còn ở trại học tập hay đang chiến đấu trong rừng sâu giành lại độc lập tự do cho quê hương ? Tôi muốn đến hò hát cùng các bạn thanh niên kia những bản hát nồng tình quê hương, thơm ngát lúa chín. Tôi muốn thực hiện bao nhiêu việc nhưng không thể làm được vì người tỵ nạn đông quá, mỗi người một thảm cảnh riêng. Thiên vị vài người sẽ sanh lạm dụng, từ đó sẽ khó rầy bảo nhắc nhở những người khác khi họ sai luật. Mọi người sẽ có mỗi ngày 400 gam gạo, 40 gam thịt cá, dùng ba lít nước ngọt để uống và nấu cơm. Tắm giặt và rửa mình phải dùng nước biển. Máy tàu nhịp đều đêm khuya : xong phiên gác tôi đến hầm nhìn đồng bào ngủ, lòng bồi hồi. Tôi tự an ủi : « Tội nghiệp quá, nhưng chắc cũng gần về bờ rồi… ». Người người ngủ chồng lên nhau để làm gối lót đầu cho đỡ đau, tay chân gác lên người nằm kế. Mùi mồ hôi nồng nàn hòa với mùi tiêu tiểu của trẻ con, hay mùi mữa của người say sóng, có vẻ không phá được giắc ngủ say sưa của họ… Dường như thoát được « thiên đường » cộng sản là mãn nguyện lắm rồi ! Ngày qua ngày, bầu không khí trên tàu càng căng thẳng và người cảm thấy khó chịu nhất có lễ là tôi. Hội đoàn vẫn chưa biết ngày nào mới vào bến và bến của nước nào vì chưa có câu trả lời dứt khoát của cháng phủ Singapore. Mặt khác, tuy Thị Trường Chung Âu Châu (C.E.E.) có hứa sẽ tặng 200.000 mỹ kim, nhưng hội chưa nhận được đồng nào nên chúng tôi được lệnh rất dè sẻn trong sự phân phối lương thực, sợ thiếu tiền nếu vớt được đông người quá. Đó là lý do gây hoang mang cho phần đông người tỵ nạn. Lắm người đã hiểu lầm và phê bình gắt gao rất tổn hại danh dự hội đoàn Médecins du Monde. Tôi cố giữ sự bình thản khi ban đêm xuống khám bệnh dưới hầm tàu tối om (sau 19 giờ đêm là phải cúp điện để cho máy nghỉ) và nghe lén được những cảm nghĩ của họ như : « Hội từ thiện con mẹ gì mà đối đãi với mình như chó ghẻ ; ăn không ngon mà cũng chẳng no ; ghế bố thì người có người không ! »… Một người trả lời : « Chắc tụi nó xớt bớt tiền Liên Hiệp Quốc cho mình mới ra nông nổi này ! ». Có người lại nói : « Dàn cảnh cho bi đát đặng quay phim, thì bọn nó mới bán được ! ». Cho đến giờ này, những câu đó vẫn còn vang rõ trong đầu, làm tôi xúc động mạnh. Đã bao lần tôi cố giải thích rõ hoạt động từ thiện của hội cho đồng bào rõ, nhưng nếu họ không muốn hiểu để thông cảm thì đâu còn cách nào ? Tôi nhẫn nhục và ráng nén nỗi đau lòng. Một chiều nọ, tình cờ Kouchner bắt được một em bé làm gì bậy tôi không nhờ (hình như là ăn cắp thức ăn hay áo quần gì đó), nhờ tôi mắng vốn lại với tổ trưởng. Một thân nhân em bé nọ đã xỉ mặt tôi và lớn tiếng chửi : - Lên tàu này là một sự nhục nhã cho dân Việt Nam, anh biết không ? Thà gia đình tôi chết dưới biển còn hơn ! Tự kềm chế không nổi nữa, tôi nạt lại : - Tôi có bắt anh lên đâu, bây giờ muốn nhảy xuống cũng chưa muộn, tôi sẽ không vớt đâu mà sợ ! Anh ta sừng sộ đáp lại : - Phải mà, anh được mấy thằng Tây cho ăn ngon, ngủ kỹ nên mặc kệ tụi tôi ? Tuy tay mặt tôi bị sưng mủ rất đau, tôi cũng đã cố co lại chuẩn bị để đỡ đòn, nhưng may phước nhiều người can ra. Ăn xong, tôi tình nguyện gác thế một ký giả bị say sóng để tìm lại sự yên tĩnh của tâm linh. Phòng ngủ dùng che gió nhà bếp, mà vì đồng bào tỵ nạn nấu nướng đến 10 giờ đêm nên tôi nghỉ ngơi không được. Lẩn quẩn chỉ nghe những câu chửi thề giành ăn. Đêm nay không trăng. Có lẽ sẽ có nhiều ghe ra khơi, để dễ thoát sự kiểm soát của hải quân cộng sản hơn. Giờ này ai cũng đã ngủ ; tôi gác với một thủy thủ phụ trách chấm địa điểm hải trình tàu chạy. Ngồi trên lan can phòng lái, nhìn quanh chỉ thấy sương mù, lòng tôi buồn bã nghe tiếng sóng vỗ lách tách đưa về kỷ niệm. Đang nhớ đến gia đình và bạn hữu thân yêu, bỗng tôi giật mình vì Kouchner lên thế. Anh vỗ vai an ủi : - Thôi đừng buồn nữa, tôi sẽ gửi qua đây thêm một thông dịch viên khác, anh chỉ lo về y khoa ma thôi, chịu không ? Tôi lúng túng không biết trả lời thế nào vì sợ hao tốn cho hội và sẽ càng thiệt hại đến sự ăn uống của các thuyền nhân. Kouchner nói tiếp : - Nếu không, có ngày những người tỵ nạn sẽ quăng anh xuống biển thì tôi ăn năn lắm. Tôi cười và ở lại gác chung với Kouchner, tâm tình thêm trước khi đi ngủ. Một trong những „thú vui của hương đêm“ khi gác khuya là nhìn hình bóng các „cô ký điệu“ lén lút lên boong tàu để rửa mình với nước ngọt... sau khi đã giặt phơi bộ đồ bà ba duy nhất mang theo. Các bạn trong hội đoàn không ai phàn nàn cáchọ phí phạm nước ngọt này và tôi cũng sẵn sàng“ làm lơ, khỏi đi khiển trách ai cả. Có khi chúng tôi được nhìn bóng dáng các cặp uyên ương rụt rè dìu nhau lên phía trước tàu, mong tìm được vài giờ tâm sự“ hầu chia nhau những nỗi vui buồn của cuộc sống mới. Đêm đó nhờ trời đột nhiên mưa lớn, chúng tôi mới rõ được „cộng đồng ấy“ đông bao nhiêu : hàng chục tấm ván và ghế bố bỗng dựng lên trên màn đêm xám xịt, người người phụ nhau khiêng xuống hầm. Tôi bật cười nhớ đến các công viên như Tao Đàn ở Sài Gòn, các cặp tình nhân quấn quít nhau dưới mỗi gốc cây ! Kouchner nửa cười, nửa mỉa mai khẽ nói : - Ít nhất bây giờ tôi mới thấy sự hữu dụng của chiếc tàu này cho dân anh ! Phải đề nghị thuyền trưởng sửa Goelo thành “Love Boat“ ! Tôi cảm thấy chua chát tình đời và thông cảm với Kouchner. Tôi phục ông vô cùng : ông buồn những người tỵ nạn trên tàu này từ lâu rồi nhưng đến nay có “dịp“ ông mới hé môi mỉa mai. Ông đã bỏ tiền riêng của ông, cho vào quỹ tàu Goelo. Đó là 100.000 đô la của giải thưởng Onassis tặng riêng ông đã đắc lực phục vụ cho những kẻ bần cùng từ 15 năm nay !. Thê mà mười ngày nay đã hết đám người này nói : “Phải chi không lên tàu thì giờ này tới đảo rồi“ đến đám kia bảo : “Ở dưới ghe tôi ăn cơm ngon hơn, còn cả trăm trái dừa và cam tươi…“. Một lát sau, lấp ló một ánh đèn lu trên mặt sóng. Đèn tàu buôn bị mờ bởi sương mù hay đèn dầu ghe tỵ nạn ? Tôi phát rợn cả người. Thời gian và không gian như dừng lại khi ghe kia xuất hiện khỏi sương mù như một chiếc thuyền ma… trôi cách tàu Goelo chỉ vài chục thước. Goelo vội giảm tốc độ : lúc nãy đèn mờ bởi sương mù nen chúng tôi tưởng ghe còn xa. Chúng tôi bật đèn pha rọi vào : không ai trên ghe. Rải rác trên ghe một vài hành trang và lương thực… Chúng tôi lấy ống loa ra gọi, hy vọng còn một vài người đang ngủ dưới hầm ghe… Thuyền vẫn trôi, yên lặng trở vào sương mù, mang theo cả sự huyền bí. Đền ghe lu dần, để lại nơi chúng tôi kỷ niệm những phút hồi hộp khó quên và nhiều thắc mắc về số phận những thuyền nhân trên ghe kia. Có thể họ đã chết trong cơn bão tố nhưng sao ghe không chìm ? Có thể họ chết vì đói khát ? Nhưng xác họ đâu ? Giả thuyết gần sữ thật nhất có lẽ là họ đã bị cướp Thái bắt cóc và thủ tiêu tất cả rồi ? Đêm tôi không ngủ được, xót thương vô cùng cho những đồng bào xấu số kia. Đến sáng, lim dim được độ một giờ thì tiếng khóc trẻ con đánh thức tôi dậy như mọi ngày. 7 giờ sáng rồi, tôi phải đi khuấy mấy bình sữa cho những em bé dưới một tuổi. Đây là việc của cô y tá nhưng cô ta không chịu dậy trước chín giờ. Mấy bà mẹ năn nỉ tôi ráng chịu khó vì các em đói quá réo khóc làm cho các người tỵ nạn khác nghỉ ngơi không được rồi lại cằn nhằn. Tuy vất vả thêm phần nào nhưng tôi cảm thấy sung sướng vô cùng khi nhìn những nét mặt khoan khoái của con nít ngậm nút bình sữa nóng. Tuy nhiên tôi cũng hơi bực là các bà mẹ lại sanh nạnh đổ lỗi cho nhau, không chịu đem trả bình sữa khi các cháu bú xong. Chỉ có mười bình cho hai mươi em nên họ lại đổ thừa đứa nàu uống trước đứa kia bú sau, đứa này bú nhiều, đứa kia bú ít… Sau đó tôi lên gác tiếp, nhìn lại hướng sau, nhớ tới thuyền ma đêm qua mà lòng vẫn còn bồi hồi. Trời hôm nay tươi sáng, gió thổi hiu hiu, tôi thở thật mạnh, hít khí trời bữa sớm cho tỉnh táo tinh thần lại. Như mọi khi, tôi hăng say gác, mỗi ba phút lại đặt ống nhòm tìm ghe. Tôi cũng thích nhìn sóng vỗ vào sườn tàu, tan ra thành bọt biển bay theo chiều gió mà ngẫm nghĩ chuyện đời. Không gì đẹp hơn lúc hoàng hôn xuống, được nhìn nhửng đàn cá thu bạc lóng lánh chiếu dưới ánh nắng hay những đàn cá tím xanh bay phóng trên mặt biển dưới ánh nắng đỏ úa của chiều tàn. Bỗng một vật gì chiếu sáng bởi ánh nắng làm tôi lưu ý đến, hình như… Cổ họng tôi như bị siết nghẹn, tôi nín thở đặt rõ lại ống nhòm. Đó là một thẻ căn cước ! Tay chân tôi bủn rủn, tôi cầu nguyện cho linh hồn nạn nhân được tiêu diêu, rồi cố nghĩ đến chuyện khác. Tàu sắp đi ngang Vũng Tàu… Lòng tôi nôn nao, ao ước được nhìn lại bãi cát trắng xưa với bao kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu. Tôi mỉm cười nhớ lại có một lần tôi đi theo bà bán tàu hủ đến cuối bãi sau (mùi nước đường thơm quá… mà tôi đau nên bị cử ăn) nên lạc, gia đình tìm cuống quít ! Bão đã lên đến cấp 5, cấp 6. Đôi khi sóng phủ cả mũi tàu, rơi xuống hầm như mưa tầm tã. Gió thổi bọt biển bay cao như một vách tường nước, tưới vào phòng lái. Ướt cả người, tôi vẫn đứng gác ngoài lan can, cố đặt ống nhìn cho bằng được Vũng Tàu yêu dấu. Thuyền trưởng gọi vào, chỉ cho xem trên radar, cuộn bão đang đi ngang. Nếu tàu mắc vào ngay giữa (gọi là con ngươi của bão) thì sẽ tan nát trong chốc lát ! Xong phiên gác, tôi xuống khám bệnh. Thật ra trưa mới đến phiên tôi vì buổi sáng bác sĩ Pháp đã khám rồi. Nhưng tôi biết tụi nó mệt, hay nóng nảy, ai đến xin thuốc lăng nhăng chuyện không đáng sẽ bị rầy. Vả lại phần đông đồng bào tỵ nạn không biết Pháp văn nên “thích“ gặp tôi hơn (kể cả những ai không ưa tôi). Tính ra mỗi ngày tôi khám trên bốn mươi bệnh nhân, còn các bác sĩ Pháp chỉ khám mười người tối đa. Buổi trưa, đầu bếp vừa lưới được con cá lớn. Ai nấy đều vui mừng vì có thức ăn tươi (tủ lạnh không đủ sức dưới ánh nắng mặt trời oi bức vùng Đông Nam Á, đôi khi nóng đến 56 độ trong bóng mát !). Tôi như có linh tính hôm nay sẽ gặp ghe tỵ nạn, vì trời bão mà lưới được cá với tốc độ cao, không phải là chuyện dễ. Ngủ trưa xong, tôi “lết“ đến phòng y tế vì để mất dép từ hôm qua. Tối hôm kia xuống hầm khám bệnh, tàu lắc tôi trợt té, cởi dép ra để trên cầu thang cho xuống đừng trơn và khi trở lên thì đôi dép biến mất. Khi tôi hỏi thăm những người ngồi hứng gió trên boong thì chỉ được trả lời gọn lõn : “Sóng đánh trôi xuống biển rồi !“. Hôm nay còn đau ê ẳm mà phải đi chân không trên thép đun nóng bởi mặt trời nên tôi di chuyển như thương phế binh. Đến nơi, nhiều người đang sắp hàng đợi xin thuốc. Tuy là những bệnh thông thường : ỉa chảy, táo bón, ghẻ lở, chóng mặt, mất ăn ngủ, đau bao tử, sốt… nhưng tôi vẫn cảm thấy thích thú khi giao thiệp với bệnh nhân Việt nam, đồng bào của tôi. Du học lâu năm, nhiễm đầu óc tự nhiên của người Tây phương, tôi buồn cười khi gặp bệnh nhân quá e lệ như thiếu nữ nọ thẹn thùng xin : - Bác sĩ ơi, cho em xin thuốc thoa ghẻ đi ! - Cô cho tôi xem nào. - Dạ… dạ không được, kỳ quá hà ! - Vậy làm sao tôi biết loại ghẻ nào mà trị ? - Thôi mà bác sĩ phá em hoài, cho em xin thuốc nào cũng được, miễn hết thôi. Trời ơi là trời, cứng đầu thế này làm sao hành nghề đúng qui tắc ? Tôi đành phải đưa cho loại thuốc ghẻ tổng quát đỡ ngứa vậy thôi. Đang quay quần với bệnh nhân, thủy thủ kêu tôi ra nhìn một hiện tượng ngoài xa : một hình dáng ghe chưa từng thấy. Đứng hơn là nhiều chiếc như vậy. Từ xa đã thấy nổi bật màu xanh trời với những viền đỏ quanh sườn ghe. Một người tỵ nạn hô lên : - Thuyền đánh cá quốc doanh bây ơi ! Đám người tò mò bu đặc phía trước tàu để quan sát, vừa xem vừa chửi rủa om sòm : „Đụ mẹ cộng sản“, Đụng chìm cha tụi nó“, v.v… Tôi chạy lên phòng lái, đặt ống nhìn thấy trên mỗi chiếc ghe đánh cá có một anh bộ đội ngồi cạnh cây súng tiểu liên. Hoảng hốt, tôi lấy loa ra lệnh cho đồng bào xuống hầm, sợ có đại họa nều cán bộ cộng sản “nổi máu anh hùng“ bất tử. Nhưng chẳng bao nhiêu người nghe theo, ngược lại còn có những người đang ngủ trưa chưa hay, chạy lên coi và… chửi phụ !Thuyền trưởng đành đổi hướng tàu, lánh xa vùng đánh có kia trong sự luyến tiếc của các ký giả vỉ họ lý luận : “Sao không đến hỏi xem họ có đi luôn không, như vậy thế giới càng thấy rõ bộ mặt của cộng sản nếu có cán bộ của họ cũng đào ngũ ?“. Thuyền trưởng nửa giỡn nửa quạu đáp lại : - Anh muốn uốn bảy tấc lưỡi để thuyết phục thì cứ lấy ca nô nhỏ mà bơi đến… Không đầy một tiếng đồng hồ sau lại có báo động nữa. Một thuyền khá lớn đang chạy về hướng tàu Goelo. Dần dần hiện rõ cờ trắng quen thuộc của ghe tỵ nạn. Chúng tôi liền họp nhau bàn kế hoạch vớt. Thuyền trưởng cho ý kiến chỉ câu ghe thôi, đợi ra khỏi vùng bão tố mới vớt. Vớt bây giờ nguy hiểm cực kỳ, sợ ghe sẹ bị đập nát vào sườn tàu ; sợ xảy ra hỗn loạn có người rớt xuống biển thì sẽ bị cuốn ngay không sao vớt kịp được. Thuyền hiện rõ hơn, loi ngoi hàng chục người ngồi trên mui. Kouchner thắc mắc : - Sao đực rựa không vậy ? Coi chừng cộng sản trá hình để thủ tiêu các tàu chuyên vớt như tụi mình à ! Chúng tôi núp đầu xuống hết. Một ký giả bàn : - Chắc không đâu, mặt họ có vẻ hoảng hốt lắm. Họ được bao nhiêu người trên thuyền vậy? - Chắc hơn tám mươi người – tôi trả lời. Giỡn không ? Ghe này đâu có lớn hơn ghe trước bao nhiêu ! Dân tỵ nạn dưới hầm tàu Goelo đều chạy lên xem. Chúng tôi yêu cầu ban trật tự cho đồng bào dang ra hai bên hông tàu để việc chuyển ghe được dễ dàng. Nhưng ban trật tự vẫn không kềm nổi sự hổn độn trên tàu : kẻ tò mò muốn xem, người viện cớ đến nhìn bà con… Một thủy thủ nói nhỏ với tôi : - Phải chi có roi điện như trong xiệc quất chắc họ mới chịu dang. Tàu thả thêm vỏ bánh xe, phụ những phao dùng cho ghe đừng bị đập vào sườn. Thuyền tỵ nạn cố xáp lại gần nhưng sóng gió quá mạnh, người dưới ghe không chụp được dây quăng xuống đặng cột lại. Mãi đến lần thứ tư mới thành công. Ghe như con thú hoang vẫy vùng khi bị bắt. Một cuộn sóng đưa thuyền lên xuống gần hai thước, lắc qua lắc lại trên 80 độ khiến đồng bào trên ghe la hét kêu cứu thật não nùng. Hàng trăm cặp mắt hốt hoảng từ dưới ghe nhìn lên như van xin, những nét mặt mệt mõi trông ngóng lưới đang giăng xuống. Vừa thả xong lưới, hàng chục bàn tay lở loét níu vào, cố vươn thân thể gầy ốm, kiệt quệ lên “bờ cực lạc“. Ban trật tự từ Goelo xuống ghe tìm một chỗ đứng thật khó khăn vì mỗi người trên ghe hoảng sợ đều muốn ào ra khỏi hầm ghe. Mỗi lượn sóng lại đua thêm nước vào ghe khiến ghe nghiêng hẳn về phía tàu Goelo đến xém lật. Sự hỗn loạn gia tăng rất mau ; người leo đạp lên người, tranh giành mảnh lưới tự do. Tàu Goelo cũng bị mất thăng bằng nghiêng về phía ghe. Ban trật tự phải dùng đến bạo lực đè đầu các người tỵ nạn trên ghe không cho đứng dậy nữa, níu lại những ai trèo lên người khác. Nhưng họ vẫn chịu “ăn đòn“ hơn là nghe chỉ thị ban trật tự. Một cô bé tuột lưới được chụp kịp kịp thời ; một thiếu sinh rớt xuống nước được kéo kịp lên ghe trước khi bị kẹp lại giữa ghe và tàu ; một em bé đang chuyển lên bĩ “kéo dãn“ người ra, la khóc inh ỏi (người trên cầm tay, người dưới chưa dám buông). Bầu không khí vô cùng căng thẳng, trên la dưới khóc… nếu nhắm mắt lại sẽ không khác gì pháo kích Tết Mậu Thân. Trên boong tàu nằm la liệt những người bị xỉu, gảy xương sườn, trầy chảy máu chân tay. Tôi định tháo dây cho ghe trôi nhưng nhìn lại thấy một người còn đang tìm kiếm một vật gì dưới hầm. Vì đã muộn, tôi hối anh : - Mau đi chớ, ghe đang chìm anh biết không ? - Dạ… em kiếm ống thuốc lào đâu mất rồi ! Chịu nỗi không ? Mục lục
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
Trang trước | Trang kế ![]() |
|
Cập nhật ngày 02 tháng 01 năm 2008 - Copyright © 2001 - 2008 Vietnam Y Tế |