|
Phần thứ ba: 12 Thức Dịch Cân kinh
Thức thứ tám:
Tam thứ lạc địa (Ba lần xuống đất).
1. ĐỘNG TÁC, TƯ THẾ
1.1. Hạ án tẩy tủy (án phía dưới, tẩy tủy) :
tư thức như dự thức đầu. Hai tay từ từ cử lên trên, chưởng tâm hướng thượng tới đầu đỉnh. Hai
chưởng tâm đối nhau, đồng thời ngước mắt nhìn trời. Hai mắt nhìn về phía vô tận của bầu trời.
Lưỡi đưa lên cao. Sau đó đầu cổ thẳng, úp chưởng hướng trở xuốngï, rồi hạ tay xuống ngang
bụng.
(H17). Ý niệm "Chưởng thác thiên môn" như đệ tam
thức.


1.2. Mã bộ tồn án (xoạc chân trên lưng ngựa) :
tiếp thức trên, gập gối như ngồi trên lưng ngựa, đồng thời hai tay phân hướng hai bên
thân, các đầu ngón tay hướng ngoại. Đó là thức mã bộ, mắt nhìn về trước. Lồng ngực, lưng, đùi
như mở ra thành thức thượng hư hạ thực. (H18).
1.3. Chưởng thác thiên cân (chưởng đẩy nghìn
cân) : tiếp theo thức trên. Hai chân đang xoạc, thu hẹp lại. Hấp khí. đỉnh lưỡi hướng
trời. Đồng thời hai chưởng hướng thượng như đẩy vào một vật nặng nghìn cân, khi tới ngang vai
thì đưa hai tay thành vị trí với vai thành đường thẳng. Hô khí. Hai bàn tay hướng lên trời.
Giữ nguyên tư thức, một thời gian. Kế tiếp hai tay hạ xuống, gối gập như ngồi trên yên ngựa.
Hai tay ép sát người, bàn tay hướng ngoại. Hô khí. Luyện liền ba thức
(H19). Những người huyết áp cao, hay thấp khi luyện
thức này phải rất khoan thai. Thanh tráng niên trái lại luyện với tốc độ nhanh.


1.4. Hạ án tẩy thủy (án dưới tẩy tủy) : sau
khi hoàn thành thức cuối thì , đứng thẳng dậy, hai tay từ từ đưa ngang đầu, chưởng tâm đối
nhau, nghiêng đầu nhìn ra xa, đỉnh lưỡi nâng cao. Đầu cổ thẳng, hai tay hạ xuống ngang bụng
như thức thứ 8 (H17).
2. HIỆU NĂNG
Bồi bổ nguyên khí,
Cường kiên cân lực, (làm mạnh, làm gân chắc chắn).
3. CHỦ TRỊ
Trị lưng đau,
Dương ủy (bất lực sinh lý).
Các bệnh về chân.
4. NGUYÊN BẢN

|